Cụ là bậc Tiền tổ khai sáng Ngành 2 (ngành Em) của dòng tộc. Do thời gian xa xưa và phả tích bị mai một qua biến thiên lịch sử, con cháu đời sau chưa tường minh được tên húy, ngày sinh, ngày mất và nơi an nghỉ của cụ; trong gia tộc theo tục truyền khẩu quen gọi tôn kính là "Cụ Năm Đời" (tức bậc tổ cách 5 đời tính từ các bậc cao niên). Con cháu đời đời thành kính phụng thờ, ghi danh nơi đầu phả ký để lưu dấu cội nguồn muôn thuở.
Cụ Phó Tiềm sinh thời là bậc nghệ nhân thợ rèn danh tiếng.
1. Tập quán xưng danh nghề nghiệp truyền thống:
Ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, trong các làng nghề thủ công (phường rèn, phường mộc, phường nề, thợ cối...), người mới học việc gọi là "thợ", nhưng người có tay nghề bậc thầy, làm chủ lò rèn hoặc đứng đầu một kíp/phường thợ thì được bạn nghề và dân làng tôn kính gọi là "Ông Phó", "Cụ Phó", "Bác Phó" (Phó rèn, Phó mộc, Phó cối...).
Trong cơ cấu phường thợ cổ truyền: Người thợ cả/thầy cả hoặc thợ phó phụ trách kỹ thuật rèn đúc khi đi làm ăn xa. Dân gian thường ghép danh vị nghề nghiệp này vào tên húy để gọi tôn xưng, ví dụ cụ tên là Tiềm làm nghề rèn thì cả vùng kính cẩn gọi là "Cụ Phó Tiềm" (tương tự như cụ Phó Bảng, cụ Phó Cối, cụ Hương, cụ Trùm...). Lâu dần, danh xưng nghề nghiệp trở thành tục danh chính thức.
2. Minh chứng vật thể hiện còn (từ ký ức điền dã gia tộc):
Các bậc cao niên trong họ kể lại: Bia mộ của cụ hiện vẫn còn tại khu vực Gò Cá, trên văn bia đá khắc rõ danh hiệu "Cụ Phó Tiềm". Các chú đời sau đi viếng mộ đã dịch trực tiếp từ văn bia này để nối dòng thế thứ Ngành 2.
3. Về việc lên Thái Nguyên và mất nơi đất khách:
Cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, Thái Nguyên là trung tâm công nghiệp khai khoáng (mỏ than, mỏ sắt Trại Cau...) lớn nhất xứ Bắc thuộc Pháp. Rất nhiều kíp thợ rèn tài hoa từ Hà Đông, Đan Phượng, Hoài Đức lên Thái Nguyên mở lò rèn đúc công cụ sản xuất, cuốc xẻng mỏ, phụ tùng xe goòng. Do dịch bệnh, sơn lam chướng khí thời bấy giờ, cụ đã tạ thế nơi đất khách, không kịp đưa hài cốt về quê ("mất xác").
Vợ cả: Bà Chính thất (chưa rõ húy) · Đã mất (Bà Cả)
Vợ hai: Bà Thứ thất (chưa rõ húy) · Đã mất (Bà Hai)
Con của ông Phó Tiềm và bà Chính thất (chưa rõ húy) (vợ cả) tr. 000
Quê: Xã Ô Diên (thôn Đan Hội, xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội)
Trưởng nữ của Cụ Phó Tiềm và Cụ bà Chính thất. Xuất giá lấy cụ Lý Lễ, trong gia tộc và dân làng xưa thường kính gọi theo danh vị hôn phối là Cụ bà Lý Lễ. Hiện chưa rõ tên húy, ngày sinh, ngày mất và nơi an nghỉ.
3.3
Nguyễn Thị Linh
(Bà Linh (ngõ Gai))
Đã mất · Ngành 2
Con của ông Phó Tiềm và bà Chính thất (chưa rõ húy) (vợ cả) tr. 000
Quê: Xã Ô Diên (thôn Đan Hội, xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội)
Con gái thứ hai của Cụ Phó Tiềm và Cụ bà Chính thất. Sinh thời cư ngụ tại khu vực ngõ Gai. Cháu con đời đời ghi nhớ cội nguồn phụng thờ.
3.4
Nguyễn Thị Phi
(Bà Phi (ngõ Gai))
Đã mất · Ngành 2
Con của ông Phó Tiềm và bà Chính thất (chưa rõ húy) (vợ cả) tr. 000
Quê: Xã Ô Diên (thôn Đan Hội, xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội)
Con gái thứ ba của Cụ Phó Tiềm và Cụ bà Chính thất. Sinh thời cư ngụ tại khu vực ngõ Gai. Cháu con đời đời ghi nhớ cội nguồn phụng thờ.
3.5
Nguyễn Trọng Tiện
1900 – ? · Ngành 2
Con của ông Phó Tiềm và bà Thứ thất (chưa rõ húy) (vợ hai) tr. 000
? – Mất mùng 4 tháng Giêng 1947 (Bến đò Dày, Liên Hà) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Nguyễn Thị Minh (vợ cả) tr. 000
Quê: Thôn Đan Hội, xã Tân Lập, Đan Phượng, Hà Nội (nay là xã Ô Diên) · Giỗ: 4/1 âm lịch · An táng: Bến đò Dày, sông Hồng (xã Liên Hà cũ, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội)
Cụ Nguyễn Trọng Hài (tục danh gọi tôn kính là Cụ Giai), là bậc Trưởng nam đời thứ 4 của Cụ Nguyễn Trọng Hán và Cụ bà Chính thất Nguyễn Thị Minh.
Về thời điểm và hoàn cảnh cụ mất:
Theo lời bà Biên (thời điểm đó đã 30 tuổi nên biết rõ việc) kể lại: Cụ Hài đưa 3 mẹ con (cụ bà vợ cụ Sửu, ông Tuấn, ông Tuệ) đi tản cư sang bên Bắc, khi đến bến đò (có lẽ là bến đò Dày trên sông Hồng, thuộc địa bàn xã Liên Hà cũ, huyện Đan Phượng) thì bị máy bay Pháp bắn. Khi đó ông Tuệ còn bé ngồi trong thúng, ông Tuấn đi bộ được. Cụ Ba (thân sinh ra ông Thìn) đi cùng đã chạy thoát về báo tin (thông tin này do chú Láng/Thành truyền lại). Cụ Hài bị máy bay Pháp bắn trúng và tử nạn tại bến đò.
Thời điểm xảy ra sự việc là vào đầu năm 1947, diễn ra sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) nên mới có máy bay Pháp bắn phá người dân đi tản cư. Ngày giỗ của cụ Hài là mùng 4 tháng Giêng âm lịch, cho nên lúc bấy giờ mùng 4 tháng Giêng âm lịch tức là sang đầu năm 1947 (năm Đinh Hợi, nhằm ngày 25/01/1947 Dương lịch).
Đính chính khảo dị lịch sử:
Chi tiết trước đây cho rằng cụ mất năm 1942 là chưa chính xác (xuất phát từ việc suy đoán cơ học dựa theo lời kể của ông Nhớn rằng khi ông được khoảng 9 tuổi thì bố mất, hoặc truyền ngôn cụ mất ở Tuy Khê). Nay dòng họ chính thức đính chính: Cụ Hài mất vào mùng 4 tháng Giêng năm Đinh Hợi (đầu năm 1947) tại bến đò Dày do máy bay Pháp bắn trong đợt tản cư sau ngày Toàn quốc kháng chiến, theo đúng lời kể của bà Biên và cụ Ba.
Ngày giỗ kỵ nhật của cụ được gia tộc phụng cúng vào ngày mùng 4 tháng Giêng (4/1 âm lịch) hàng năm.
Vợ cả: Bà Chính thất (chưa rõ húy) · Đã mất (Bà Cả)
9.Nguyễn Trọng Thanh1932 – 2006 · con nuôi nhập họ (3 ô vuông)tr. 000
4.3
Nguyễn Trọng Thi
? – Mất khi còn nhỏ (khoảng 4–6 tuổi) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Nguyễn Thị Minh (vợ cả) tr. 000
Giỗ: 22/2 âm lịch
Nguyễn Trọng Thi, là con trai của Cụ Nguyễn Trọng Hán và Cụ bà Chính thất Nguyễn Thị Minh (em trai của Cụ Nguyễn Trọng Thu). Sinh thời, người không may đoản mệnh mất sớm từ thuở ấu thơ (khoảng độ bốn đến sáu tuổi). Ngày kỵ nhật giỗ hàng năm vào ngày 22 tháng 2 âm lịch (22/2). Gia tộc trân trọng lưu danh nơi phả ký để cháu con muôn đời tưởng nhớ.
4.4
Nguyễn Thị Hệ
Đã mất · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Nguyễn Thị Minh (vợ cả) tr. 000
Cụ Nguyễn Thị Hệ, là con gái thứ năm của Cụ Nguyễn Trọng Hán và Cụ bà Chính thất Nguyễn Thị Minh (em gái ruột của Cụ Trưởng nam Nguyễn Trọng Hài - Cụ Giai).
Theo lời kể xác thực của các bậc cao niên trong gia tộc, cụ có một người con đi theo cậu ruột (Cụ Hài) gánh hàng thuê cho nhà cụ Chắt Liên. Trên chuyến đò vượt qua sông Hồng tại bến đò Dày (xã Liên Hà cũ), máy bay giặc Pháp bắn chìm đò khiến người con của cụ cùng Cụ Hài đều tử nạn trên dòng sông Hồng. Nỗi đau thương mất mát ấy được dòng tộc muôn đời xót xa ghi nhớ.
4.5
Nguyễn Trọng Trí
1905 – 1958 · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Thứ thất (chưa rõ húy) (vợ hai) tr. 000
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Thứ thất (chưa rõ húy) (vợ hai) tr. 000
Sinh hạ thuở nhỏ không may mang tật bệnh nơi mắt, sớm quy tiên từ lúc còn ấu thơ. Linh hồn thuần khiết, gia đình đời đời tôn phụng làm Ông Hoàng tại gia. Hiện do chi phái hậu duệ đời thứ 6 (ông Nguyễn Trọng Tâm) phụng thờ trang nghiêm tại gia đường.
4.7
Nguyễn Thị Dụng
? – Mất khi còn nhỏ · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hán và bà Thứ thất (chưa rõ húy) (vợ hai) tr. 000
Sinh hạ gặp chứng bạo bệnh khó nuôi, sớm thác hóa từ thuở thơ ấu. Linh hồn trong sáng hiển linh, gia đình tôn phụng làm Bà Cô Tổ. Hiện do chi phái hậu duệ đời thứ 6 kế tục phụng tự chu đáo.
Con của ông Nguyễn Trọng Hài và bà Nguyễn Thị Sửu (vợ hai) tr. 000
Quê: Số 114–116, đường Đạc 9, thôn Trung Hà, xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội (nay là xã Liên Minh)
Cụ Lê Văn Nhớn sinh năm 1933 (năm Quý Dậu), là con trai trưởng của Cụ Nguyễn Trọng Hài (Cụ Giai) và Cụ bà Nguyễn Thị Sửu.
Sinh thời thuở nhỏ, song thân cụ sinh hạ được mấy người con đầu nhưng do hoàn cảnh thuốc men y tế thời thuộc địa thiếu thốn nên đều đoản mệnh non yểu ("khó nuôi"). Vì tấm lòng hiếu sinh sâu nặng và mong bảo toàn giọt máu nối dõi, cha mẹ cụ đã thuận theo tập tục tín ngưỡng cổ truyền của đồng bằng Bắc Bộ xưa: làm lễ gửi cụ làm con nuôi tạm thời ("gửi nuôi vía / đổi vía tìm phúc") sang mang dòng họ Lê (Lê Văn Nhớn) để nương nhờ phúc ấm, tránh vía dữ. Quá trình nuôi dưỡng diễn ra chu đáo theo kiểu gửi tạm nuôi rồi lại đón về chăm sóc, rồi lại gửi tạm, tuyệt nhiên không phải vì bần hàn đói khổ mà đem bỏ con. Đến năm 12 tuổi, khi thể trạng đã vững vàng vượt qua hạn tuổi hiểm nghèo, gia đình đã làm lễ đón hẳn cụ về gia đình phụng dưỡng.
Năm cụ vừa tròn 9 tuổi (1942), thân phụ cụ là Cụ Giai không may hy sinh bên bờ sông Tuy Khê (Đoan Hùng, Phú Thọ), cụ sớm phải kiên cường tự lập từ thuở ấu thơ.
Hiện nay cụ đã đại thọ hơn 90 tuổi, ngụ tại Số 114–116, đường Đạc 9, thôn Trung Hà, xã Thọ Xuân, huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội (nay thuộc xã Liên Minh), là bậc nhân chứng lịch sử sống động, người gìn giữ ký ức vàng son và là niềm tự hào đại thọ của toàn dòng họ.
5.2
Nguyễn Trọng Tuyết
1907 – 25/06/1977 · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Ốc (vợ cả) tr. 000
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Ốc (vợ cả) tr. 000
❦ Tư liệu: Ảnh đi khai hoang ở Đoan Hùng
Nơi: Đoan Hùng
Người đội mũ là cụ Biên, đứng bên cạnh áo trắng là bác Cầu đã hy sinh, còn người ngồi khăn trắng là cụ Phương.
Vợ: Bà Nguyễn Thị Tựu
Các con (6):
1.Nguyễn Thị Đích
2.Nguyễn Thị Bích
3.Nguyễn Trọng Toàn
4.Nguyễn Trọng Thành
5.Nguyễn Thị Phương
6.Nguyễn Trọng Hưng
5.4
Nguyễn Trọng Long
(Con nuôi Bắc Ninh)
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Ốc (vợ cả) tr. 000
Do hoàn cảnh thời cuộc ngặt nghèo, cụ được gia đình đem cho làm con nuôi sang bên Bắc Ninh.
❧ Có trong tư liệu «Ký ức thời bao cấp: Bữa cơm độn khoai ngô, manh áo vá và nghĩa tình cưu mang ruột thịt» (mục ông Nguyễn Trọng Hòa) tr. 000
Các con (5):
1.Nguyễn Trọng Lia
2.Nguyễn Thị Thường
3.Nguyễn Thị An
4.Nguyễn Thị Linh
5.Nguyễn Thị Thủy
5.5
Nguyễn Trọng Hòa
? – 04/03/1945 · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
Giỗ: 20/1 âm lịch
Sinh thời cụ mất sớm, cụ bà sau đó đi bước nữa. Hai người con thơ dại của cụ là ông Nguyễn Trọng Hợp và bà Nguyễn Thị Tý được các chú ruột (Cụ Sáu Luật và Cụ Năm) đón về cưu mang, chăm sóc và nuôi nấng nên người, vẹn tròn nghĩa tình cốt nhục gia tộc.
❦ Tư liệu: Ký ức thời bao cấp: Bữa cơm độn khoai ngô, manh áo vá và nghĩa tình cưu mang ruột thịt
Thời gian: Giai đoạn trước 1975 – 1986 · Nơi: Thôn Đan Hội, xã Ô Diên, Hà Nội · Cùng: Nguyễn Trọng Hợp tr. 000, Nguyễn Thị Tý tr. 000, Nguyễn Trọng Long tr. 000, Nguyễn Trọng Luật tr. 000
Thuở xưa, cuộc sống của người dân quê Cội – làng Đan Hội trải qua muôn vàn gian nan thiếu thốn, đặc biệt là giai đoạn trước năm 1975 kéo dài suốt thời kỳ bao cấp cho đến trước Đổi mới 1986. Có những giai đoạn ngặt nghèo, cả tháng trời trong nhà không có lấy một bữa cơm có miếng thịt. Bữa ăn hàng ngày chỉ có hai bữa, cơm không đủ no mà phải độn ngô, độn khoai (nhất là khoai tia) hay bo bo, bột mì. Manh áo mặc trên người phải chắp vá chằng vá đụp qua bao năm tháng để nhường nhịn cho con trẻ.
Trong hoàn cảnh cơ cực ấy, tình nghĩa gia đình và nghĩa tình máu mủ ruột thịt họ Nguyễn Trọng càng thêm ngời sáng. Khi cụ Nguyễn Trọng Hòa (con trưởng cụ Thu) không may qua đời sớm, để lại hai con nhỏ dại trong khi người vợ phải đi bước nữa, các anh em ruột trong nhà đã mở rộng vòng tay cưu mang cháu mồ côi: Cụ Sáu (Nguyễn Trọng Luật) đón người cháu trai là Nguyễn Trọng Hợp về nuôi dưỡng, chăm bẵm như con đẻ; còn người con gái là Nguyễn Thị Tý được người chú là cụ Năm đón về cưu mang nuôi nấng chu tất. Cũng giữa những năm tháng bĩ cực ấy, do hoàn cảnh thời cuộc ngặt nghèo, người con trai là cụ Nguyễn Trọng Long được gia đình đem cho làm con nuôi sang bên Bắc Ninh. Dù trải qua bao biến thiên, đói nghèo và cách trở, cháu con dòng họ vẫn một lòng đùm bọc, trọn đạo hiếu nghĩa và giữ vững gia phong phép tắc.
— Nguồn: Ký ức truyền ngôn gia tộc
Vợ: Bà Nguyễn Thị Đức · ? – 14/02/1993 · Giỗ: 23/1 âm lịch
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
Các con (7):
1.Nguyễn Trọng Mật
2.Nguyễn Trọng Tính
3.Nguyễn Trọng Trung
4.Nguyễn Trọng Hải
5.Nguyễn Trọng Sơn
6.Nguyễn Trọng Thủy
7.Nguyễn Trọng Hồng
5.7
Nguyễn Trọng Luật
(Cụ Sáu)
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
❦ Tư liệu: Khung cửi quê Cội & Ký sự biến chuyển ruộng đất nông nghiệp (1975 – 1986 – 1991)
Thời gian: Giai đoạn 1975 – 1991 · Nơi: Thôn Đan Hội, xã Ô Diên, Hà Nội
Gắn liền với đồng ruộng phù sa, nghề dệt cửi truyền thống từng là linh hồn sinh kế của làng Đan Hội suốt bao đời. Thuở xưa, con gái trong làng từ khi lên 5, lên 6 tuổi đã quen với tiếng thoi đưa lách cách, ngồi bên khung cửi phụ việc suốt chỉ, cuộn sợi rồi dần thuần thục nghề cấy lúa, dệt vải. Nghề dệt cửi thủ công gắn bó bền bỉ suốt tuổi hoa niên của bao thế hệ thôn nữ xứ Đoài. Đến khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp giải thể, nếp sản xuất cũ khép lại, người làng Đan Hội đứng trước bước ngoặt mưu sinh: những gia đình có vốn liếng tích lũy thì mua hoặc thuê khung cửi cơ khí về tự tổ chức dệt tại gia; còn những người không có vốn thì nhanh nhạy, chịu khó chuyển hướng đi học nghề thợ may để tự lực nuôi sống gia đình.
Song song với nghề dệt là bức tranh biến chuyển của chính sách ruộng đất nông nghiệp qua từng giai đoạn lịch sử:
• Thời kỳ Hợp tác xã (sau năm 1975 đến trước 1986): Ruộng khoán được phân chia theo định mức lao động canh tác của làng xã thời bấy giờ, thông thường nam giới (trai) được chia tiêu chuẩn 6 sào, còn nữ giới (gái) được chia tiêu chuẩn 3 sào.
• Những người con quê hương lên đường tòng quân nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc, sau xuất ngũ chuyển ngành làm công nhân nhà nước (hưởng chế độ lương và tem phiếu) thì theo chính sách thời bấy giờ không còn thuộc diện phân chia ruộng đất nông nghiệp tại làng quê nữa.
• Đến đợt chia lại ruộng đất lịch sử năm 1991 (thời kỳ thực hiện Nghị định 64/CP và Khoán 10, giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài theo định suất nhân khẩu nông thôn): Người cao tuổi hết tuổi lao động được tiêu chuẩn chia 10 thước ruộng; trẻ nhỏ mới sinh được chia 10 thước; còn người trong độ tuổi lao động chính được chia tiêu chuẩn 1 sào 12 thước (vùng đồng bằng Bắc Bộ quy ước 1 mẫu = 10 sào = 150 thước; 1 sào = 15 thước).
Những biến chuyển kinh tế – xã hội ấy là lát cắt lịch sử chân thực của nông thôn Bắc Bộ nửa cuối thế kỷ XX, khắc ghi chặng đường gian khó mà kiên cường của bao thế hệ tiền nhân trên mảnh đất quê Cội.
— Nguồn: Ký sự điền dã lịch sử quê hương
❧ Có trong tư liệu «Ký ức thời bao cấp: Bữa cơm độn khoai ngô, manh áo vá và nghĩa tình cưu mang ruột thịt» (mục ông Nguyễn Trọng Hòa) tr. 000
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
Con gái của cụ Nguyễn Trọng Thu và cụ bà Nguyễn Thị Kích. Xuất giá sinh hạ được người con thường gọi là Tân (Tân Rỗ). Cháu con mai sau tiếp tục liên hệ, hỏi thăm đầy đủ tên húy để bổ khuyết vào phả hệ.
5.9
Nguyễn Trọng Tám
(liệt sĩ)
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
5.10
Nguyễn Trọng Thanh
1932 – 2006 · con nuôi nhập họ (3 ô vuông) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Thu và bà Nguyễn Thị Kích (vợ hai) tr. 000
1930 – Thất lạc năm 1930 · con nuôi nhập họ (3 ô vuông) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Trí và bà Nguyễn Thị Con tr. 000
Sinh khoảng năm 1929 – 1930 tại quê nhà Đan Hội, trong gia đình thuở nhỏ thường gọi là cô Đồi hoặc cô Tư. Năm 1930, giữa bối cảnh đất nước gian khó, cụ ông đi làm phu tại mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng). Cụ bà bế cô (khi đó còn ẵm ngửa) cùng dắt theo người con trai lớn mới hơn 2 tuổi lặn lội lên mỏ tìm chồng. Giữa bước đường cùng quẫn đói nghèo, hai cụ đành ngậm ngùi đưa người con trai về quê, gạt nước mắt gửi cô lại cho một gia đình đồng bào dân tộc thiểu số bản địa tại vùng mỏ Tĩnh Túc nhận làm con nuôi với tâm nguyện con được cưu mang và bảo toàn sự sống. Từ ngày ấy đến nay bặt vô âm tín.
5.13
Nguyễn Thị Tư
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Trí và bà Nguyễn Thị Con tr. 000
Theo gia đình truyền ngôn: Có thể là cùng một người với cô Đồi (sinh năm 1930, gửi làm con nuôi tại mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng; gọi Tư vì là người con thứ tư trong nhà).
Con của ông Nguyễn Trọng Tuyết và bà Nguyễn Thị Nhữ tr. 000
6.2
Nguyễn Trọng Hợp
01/03/1942 – 25/01/2023 · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Hòa và bà Nguyễn Thị Đức tr. 000
Giỗ: 4/1 âm lịch
Thân phụ là cụ Nguyễn Trọng Hòa mất sớm từ khi ông còn nhỏ, mẹ đi bước nữa. Ông được người chú ruột là Cụ Sáu (Nguyễn Trọng Luật) đón về gia đình cưu mang, chăm bẵm, dạy dỗ và nuôi dưỡng như con đẻ, trọn vẹn tình nghĩa máu mủ ruột thịt.
❧ Có trong tư liệu «Ký ức thời bao cấp: Bữa cơm độn khoai ngô, manh áo vá và nghĩa tình cưu mang ruột thịt» (mục ông Nguyễn Trọng Hòa) tr. 000
Con của ông Nguyễn Trọng Hòa và bà Nguyễn Thị Đức tr. 000
Thân phụ là cụ Nguyễn Trọng Hòa mất sớm từ thuở ấu thơ, mẹ đi bước nữa. Bà được người chú ruột là Cụ Năm đón về cưu mang, chăm sóc và nuôi nấng chu tất đến tuổi trưởng thành.
❧ Có trong tư liệu «Ký ức thời bao cấp: Bữa cơm độn khoai ngô, manh áo vá và nghĩa tình cưu mang ruột thịt» (mục ông Nguyễn Trọng Hòa) tr. 000
6.4
Nguyễn Thị Loan
(Víu)
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Các con (1):
1.Nguyễn Văn Sơncon trai nhập họ mẹ (ô kép)
6.5
Nguyễn Thị May
? – Thất lạc (bặt vô âm tín) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Bà Nguyễn Thị May, là người con gái thứ ba của Cụ Nguyễn Trọng Luật (tục danh Cụ Sáu) và Cụ bà Nguyễn Thị Hựu.
Sinh thời, bà không may mang thể trạng bệnh tật nơi thần kinh. Một hôm bà rời nhà đi lạc rồi biệt tích bặt vô âm tín, từ đó đến nay không rõ sống chết nơi đâu. Dòng tộc khôn nguôi thương xót, trân trọng lưu danh vào phả ký để cháu con đời đời tưởng nhớ giọt máu cội nguồn.
6.6
Nguyễn Thị Vá
con nuôi nhập họ (3 ô vuông) · Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Là con gái thứ tư của Cụ Nguyễn Trọng Luật (tục danh Cụ Sáu) và Cụ bà Nguyễn Thị Hựu. Do hoàn cảnh thời cuộc xưa kia, gia đình đem bà cho làm con nuôi trên Thọ Xuân (huyện Đan Phượng, Hà Nội). Dòng họ trân trọng lưu danh vào phả ký để hậu thế đời đời ghi nhớ giọt máu cội nguồn họ Nguyễn Trọng.
6.7
Nguyễn Trọng Điển
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Con gái thứ bảy của cụ Nguyễn Trọng Luật (Cụ Sáu) và cụ bà Nguyễn Thị Hựu. Thuở nhỏ từ năm 5–6 tuổi, bà đã quen với tiếng thoi đưa, phụ giúp gia đình suốt chỉ, dệt cửi và cấy lúa. Thời kỳ Hợp tác xã, bà được phân chia tiêu chuẩn 3 sào ruộng khoán để canh tác. Bà gắn bó bền bỉ với nghề dệt vải truyền thống đến năm 28–30 tuổi; khi Hợp tác xã giải thể, bà chuyển sang học nghề thợ may để tự lực mưu sinh, cần cù nuôi dạy cháu con nên người. Bà là chứng nhân lưu giữ nhiều ký ức quý báu về gia tộc và nếp sống làng quê Đan Hội qua các thời kỳ.
Các con (1):
1.Nguyễn Mạnh CườngSinh 1996 · con trai nhập họ mẹ (ô kép)
6.9
Nguyễn Trọng Điền
Ngành 1
Con của ông Nguyễn Trọng Luật và bà Nguyễn Thị Hựu tr. 000
Con trai của cụ Nguyễn Trọng Luật (Cụ Sáu) và cụ bà Nguyễn Thị Hựu. Ông lên đường tòng quân nhập ngũ làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, sau đó chuyển ngành làm công nhân tại Công ty Sơn.